CÂY LỘC VỪNG
Một cây cảnh được coi là mang lại nhiều may mắn, tài lộc, hưng thịnh cho gia chủ thường phải hội tụ đủ các yếu tố như: Cây phải đẹp từ hình dáng bên ngoài cho tới phong thủy, hoa màu đỏ sai hoa và tuổi thọ của cây phải lâu dài. Cây lộc vừng là một trong các loại cây đó, có thể phân tích từng yếu tố như sau:
– Lộc vừng là cây vốn sống rất lâu năm, hình thù xù xì, u cục nhưng lại thể hiện sự trải đời sương gió, ý chí kiên định, lập trường vững chắc. Dù trải qua thời tiết khắc nghiệt cây vẫn đứng vững hiên ngang, điều đó thể hiện sự trường thọ, trường tồn vĩnh viễn.
– Những tràng hoa lộc vừng đỏ thắm buông dài xuống trông như những tràng pháo đỏ rộn ràng báo hiệu sắp có chuyện Hỷ (vui) đến.
– Cũng có thể thay đổi bộ cây cảnh tứ quý: Sanh – Sung – Đa – Si thành Sanh – Sung – Tùng – Lộc vẫn có ý nghĩa phong thủy tốt. Chữ Lộc tương ứng với Tài lộc, còn chữ Vừng mang hàm ý là nhỏ nhưng khi tập hợp những điều điều nhỏ sẽ hợp lại thành điều lớn. Tài lộc, may mắn, tốt lành sẽ đến với mọi thành viên trong gia đình gia chủ.
– Cành lá cây lộc vừng xum xuê, xanh tốt đồng thời thể hiện tình cảm gia đinh luôn vui vẻ, chan hòa, biết yêu thương và tôn trọng lẫn nhau, xum vầy, đoàn tụ.
Cây lộc vừng có lợi thế là đẹp ở hình dáng bên ngoài, tán rộng, sai hoa đẹp nên được ưa chuộng nhất hiện nay nhất là cây bonsai. Cây được trồng ở trong các bể, ang, chậu để trang trí cho sân vườn, biệt thự, công sở, bệnh viện, khu nghỉ dưỡng..
Ngoài ra, cây cũng được trồng ở công viên, bờ hồ, vỉa hè, phố đi bộ, trường học, khu du lịch sinh thái, đền, chùa, miếu.. Để làm cây cảnh, bóng mát lại vừa thanh lọc không khí, giảm ô nhiễm môi trường, khói bụi và chất thải của các phương tiện giao thông.
Cây lộc vừng là cây cảnh có giá trị kinh tế khá cao, nhất là cây bonsai cổ thụ với dáng vẻ già nua, xù xì nhiều gân guốc. Giá cả cụ thể còn phụ thuộc vào hình dáng, thế của cây cũng như sở thích của người mua, có những cây có giá trị lên tới cả trăm triệu.
Cây lộc vừng còn có công dụng chữa bệnh khá hiệu quả, các bộ phận của cây thường dùng để chữa bệnh là rễ, vỏ, quả, hạt.
– Rễ: Rễ lộc vừng có vị đắng, thơm, mát dùng để đun uống chữa bệnh sởi, hạ sốt, giải nhiệt.
– Quả lộc vừng xanh giã nát lấy nước dùng để bôi vào vết chàm, quả chín trị ho, hen suyễn.
– Vỏ và hạt lộc vừng xay, giã nhỏ để uống trị đau bụng, tiêu chảy.